Working Paper No. 5: mua bán, sáp nhập và ảnh hưởng quản trị công ty.

(Bài viết được đăng trên Tạp chí NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT – VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM số 2(310) – 2014)

Nguyễn Việt Khoa[1]Khoa Luật Kinh tế – Trường Đại học Kinh tế TP.HCM

 1. Đặt vấn đề:

Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp là một xu hướng tất yếu hiện nay. Từ khi Luật doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực thì đã có rất nhiều công ty đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào hoạt động này. Hoạt động mua bán, sáp nhập có thể mang nhiều mặt tích cực cho các bên tham gia, một trong những vấn đề được quan tâm là mức độ ảnh hưởng và tác động của hoạt động mua bán sáp nhập đối với việc quản trị công ty.

Mua bán, sáp nhập là: M&A được viết tắt bởi hai từ tiếng Anh là Mergers (sáp nhập) và Acquisitions(mua lại). M&A là hoạt động giành quyền kiểm soát doanh nghiệp, bộ phận doanh nghiệp (gọi chung là doanh nghiệp) thông qua việc sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đó.  Sáp nhập: là hình thức kết hợp mà hai công ty thường có cùng quy mô, thống nhất gộp chung cổ phần. Công ty bị sáp nhập chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập để trở thành một công ty mới[2]Mua lại: là hình thức kết hợp mà một công ty mua lại hoặc thôn tính một công ty khác, đặt mình vào vị trí chủ sở hữu mới. Tuy nhiên thương vụ này không làm ra đời một pháp nhân mới.Mục đích của M&A là giành quyền kiểm soát doanh nghiệp ở mức độ nhất định chứ không đơn thuần chỉ là sở hữu một phần vốn góp hay cổ phần của doanh nghiệp như các nhà đầu tư nhỏ, lẻ. Vì vậy, khi một nhà đầu tư đạt được mức sở hữu phần vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp đủ để tham gia, quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp thì khi đó mới có thể coi đây là hoạt động M&A[3]. Ngược lại, khi nhà đầu tư sở hữu phần vốn góp, cổ phần không đủ để quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp thì đây chỉ được coi là hoạt động đầu tư thông thường. Quản trị công ty: là một hệ thống các thiết chế, luật lệ, quy tắt, chính sách được xây dựng để điều khiển và kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp. Quản trị công ty chỉ ra cách thức vận hành thực hiện quyền hành của cơ quan quản lý, cơ quan điều hành, quan hệ cổ đông, các chủ thể có quyền và lợi ích liên quan trong việc tạo ra sự minh bạch trong hoạt động của công ty[4].

Mỗi thương vụ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp đều có mục tiêu rõ ràng bởi các bên tham gia, bởi vì bản chất của M& A là hoạt động giành quyền kiểm soát. Để đạt được mục tiêu ban đầu mà các bên hướng tới, các bên tham gia thường đem lại những hiệu quả nhất định trong quản trị công ty. Sau những vụ mua bán, sáp nhập sẽ tạo ra tính minh bạch về hoạt động của công ty, thay đổi cơ cấu quản lý điều hành công ty, quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông, quy chế, điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty. Tuy nhiên, bên cạnh những ảnh hưởng tích cực trong quản trị công ty, đôi khi hoạt động mua bán, sáp nhập cũng gây nên những ảnh hưởng thiếu tích cực làm xấu đi hoạt động quản trị công ty.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi phân tích mức độ ảnh hưởng trong quản trị đối với ba hình thức cơ bản là chuyển nhượng cổ phần, sáp nhập và hợp nhất công ty. Phân tích đánh giá những hiệu quả tích cực, tiêu cực đối với quản trị công ty từ những vụ mua bán, sáp nhập tại Việt Nam, qua đó đưa ra những giải pháp nhằm giúp các cơ quan quản lý, các bên tham gia có những kinh nghiệm khi thực hiện các thương vụ mua bán sáp nhập doanh nghiệp. Vì vậy vấn đề mua bán, sáp nhập luôn đi liền với hiệu quả về quản trị của công ty.

2. Vai trò và mức độ ảnh hưởng của mua bán sáp nhập đối với hoạt động quản trị công ty.

2.1 Tính minh bạch trong hoạt động quản trị công ty đối với các vụ việc mua bán, sáp nhập.

Trong hầu các vụ việc mua bán, sáp nhập công ty thì tính minh bạch không thể thiếu đối với hoạt động quản trị công ty. Tinh minh bạch này thể hiện ở các yếu tố sau: tính minh bạch trong việc công bố thông tin trước và sau vụ mua bán, sáp nhập. Đây là một trong những yêu cầu có tính bắt buộc trong mỗi thương vụ mua bán sáp nhập. Bên mua bao giờ cũng đòi hỏi bên bán phải cung cấp tất cả các thông tin cần thiết về hoạt động của công ty trước khi thực hiện hoạt động mua bán và sáp nhập. Bởi vì, nếu hoạt động này càng minh bạch thì bên mua hoặc bên nhận sáp nhập sẽ càng hạn chế được rủi ro sau quá trình mua bán và sáp nhập.

Tùy vào những hình thức mua bán, sáp nhập khác nhau mà việc công bố thông tin có thể thể hiện ở những khía cạnh khác nhau. Đối với những vụ việc liên quan đến việc mua cổ phần của công ty, nếu trong trường hợp có yếu tố nước ngoài thì gần như bắt buộc các công ty tham gia phải thực hiện việc báo cáo kiểm toán đồng thời. Đối với các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thì hoạt động này còn phải công khai  trước khi thực hiện việc mua và bán cổ phần. Hoạt động công khai này không chỉ giúp cho bên mua cổ phần có thể nắm rõ tình hình hoạt động của công ty để hạn chế những rủi ro cần thiết trước khi thực hiện hoạt động M&A. Đối với bên bán cổ phần việc tham gia mua cổ phần nếu được công bố rõ ràng sẽ tạo điều kiện cho các cổ đông định hướng  chiến lược hoạt động của công ty, và giúp cho bộ máy quản trị điều hành có khả năng kiểm soát hoạt động của công ty và không có những bất ngờ cần thiết sau khi thương vụ này hoàn thành.

Đối với sáp nhập công ty thì  thì các công ty tham gia hoạt động này cần phải minh bạch, công báo đầy đủ những thông tin rõ ràng sẽ là điều kiện tiên quyết cho các vụ việc sáp nhập. Hoạt động động công bố thông tin thông  thường được thực hiện thông qua các hoạt động kiểm toán của các công ty kiểm toán. Trong trường hợp thông tin không được công bố rõ ràng và đầy đủ thì bên nhận sáp nhập sẽ gặp những rủi ro sau khi M & A hoàn thành.

Tuy nhiên, vừa qua bên cạnh những hoạt động M& A chấp hành đúng quy định của pháp luật cũng không ít những vụ việc không được các bên công bố thông tin rõ ràng trước khi thực hiện hoạt động thâu tóm công ty. Ngân hàng Sacombank là một thí dụ cụ thể về việc công bố thông tin trong hoạt động quản trị công ty[5]. Mặc dù, ngân hàng Sacombank đã được cảnh báo từ trước đó đã có hoạt động thâu tóm, tuy nhiên các bên tham gia hoạt động thâu tóm không hề có những thông tin rõ ràng trước khi thực hiện thương vụ được xem là lớn nhất trong lĩnh vực ngân hàng ở nước ta, có nhiều câu hỏi đặt ra mà đến hôm nay chưa có những giải thích thỏa đáng: Chủ thể thâu tóm thật sự của ngân hàng này là ai? Số tiền thâu tóm này từ đâu ra? Các cổ đông cũng như các bên có liên quan đang chờ câu trả lời thỏa đáng từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng không biết khi nào mới có một đáp án chính xác làm hài lòng các bên có liên quan, trong khi thương vụ thâu tóm này gần như đã hoàn thành, và hiện tại đang có xu hướng chuyển qua giai đoạn tiếp theo là sẽ định hướng sáp nhập ngân hàng Sacombank và Exibank[6]. Ngân hàng thương mại là một lĩnh vực hoạt động đòi hỏi phải có sự minh bạch cao, hơn nữa đối với Sacombank là một ngân hàng đã niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán thì mọi thông tin có liên quan sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông người lao động. Đối với những công ty chưa niêm yết trên sàn thì cổ đông chỉ biết được thông tin khi hoạt động thâu tóm đã hoàn thành như Công ty CP Thái Lan đối với Công ty thức ăn chăn nuôi của Việt Nam[7], hiện đang xảy ra hoạt động thâu tóm của các công ty nước ngoài tại các công ty xây dựng Việt Nam.  Cũng liên quan đến thương vụ sáp nhập ngân hàng phát triển nhà Hà Nội (HUB) vào ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Hà Nội (SHB), và hợp nhất ba ngân hàng: Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn, ngân hàng Việt Nam Tín Nghĩa, Ngân hàng Đệ Nhất thật sự các cổ đông, chủ nợ, người lao động các nhà đầu tư đều không có những thông tin chính thức từ các bên[8].Và đến hôm những thông tin này cũng chưa được công bố một cách rõ ràng. Việc hợp nhất sáp nhập này do các ngân hàng tự nguyện hay bị bắt buộc? Nếu dùng biện pháp hành chính can thiệp vào hoạt động kinh doanh liệu có phù hợp chăng[9]? Và hiện nay thông tin tính thanh khoản cũng như tình hình hoạt động của các ngân hàng là một vấn đề mà tất cả mọi người điều muốn được biết, sắp tới sẽ có một số ngân hàng phải sáp nhập theo chỉ đạo của ngân hàng nhà nước[10] thì những thông tin này người gửi tiền, cổ đông rất cần được biết để họ có thể bảo vệ lợi ích của mình, đó là thông tin mà họ có quyền được biết.Kinh nghiệm nổi bật và hết sức quý báu của Hàn Quốc là chủ động tiến hành M&A để tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, tạo cơ sở vững chắc về mặt tài chính cho phát triển kinh tế bền vững chứ không thụ động ngồi chờ các ngân hàng đổ vỡ để xử lý hậu quả. Từ 33 ngân hàng năm 1997, đến ngày 19/5/2009 chỉ còn 19 ngân hàng khỏe mạnh. Nghĩa là Hàn Quốc chấp nhận cắt bỏ một nửa cơ thể của ngành ngân hàng để tạo ra một hệ thống mới lành mạnh, đủ sức cạnh tranh quốc tế[11]. Tại Trung Quốc, các ngân hàng đang thoát khỏi sự kiểm soát của Nhà nước bằng cách bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Ở nước Nga, hoạt động M&A ngân hàng tăng 30-40%/năm trong suốt 5 năm qua. Tại Nhật Bản, 3 siêu ngân hàng đã mua lại 11 ngân hàng nhỏ và vừa và hiện đang sắp xếp lại hoạt động của các ngân hàng này. Tại Trung Âu, các nhà đầu tư nước ngoài đã mua hoặc thành lập 80% số ngân hàng hàng đầu trong nước kể từ khi các nước này chuyển đổi thể chế chính trị.

Trong các năm 2001-2008, Ba Lan gặp rất nhiều khó khăn do phải điều chỉnh để hướng tới gia nhập Liên minh Châu Âu. Hệ thống ngân hàng nước này vì thế cũng bị ảnh hưởng, nhiều ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nhưng đã tồn tại và tiếp tục phát triển được nhờ hoạt động M&A. 5 ngân hàng vay thương mại lớn, gần 90 ngân hàng hợp tác đã tham gia M&A với tổng số tiền xấp xỉ 354 triệu EURO[12].

Nhằm đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động quản trị công ty, pháp luật Việt Nam cũng như các nước điều có những quy định số lượng thành viên hội đồng quản trị độc lập tham gia vào quản lý công ty nhằm đảm bảo tính minh bạch cũng như bảo vệ quyền và lợi ích của cổ đông thiểu số[13]. Đối với các công ty đại chúng quy mô lớn và công ty niêm yết, hội đồng quản trị phải có ít nhất 5 thành viên và tối đa là 11 thành viên. Trong đó tối thiểu một phần ba tổng số thành viên là thành viên độc lập[14]. Tuy nhiên thành viên độc lập thường không phát huy khả năng của mình, bởi vì bản thân họ được giới thiệu và bầu ra từ các thành viên chủ chốt và ít nhiều họ sẽ chịu sự chi phối bởi các thành viên đại diện cho cổ đông là những ông chủ đích thực của Công ty. Như Ông Kiều Hữu Dũng là thành viên độc lập của ngân hàng Sacombank sau khi hội đồng quản trị mới được bầu ra từ việc thâu tóm ngân hàng là một điển hình.

Đứng ở một góc độ khác, nếu việc công bố thông tin nhất là khi thông tin về vụ mua bán bị rò rỉ ra bên ngoài, có thể ảnh hưởng rất trái chiều tới tâm lý các cổ đông và tâm lý những người lãnh đạo trong công ty[15].Vì vậy, việc chọn lựa những thông tin cần công bố trong các vụ mua bán sáp nhập sẽ giữ vai trò quan trọng và hạn chế các tranh chấp xảy ra. Thực tiễn, việc công bố thông tin về hoạt động mua bán, sáp nhập ở nước ta là rất kém và chậm chạp. Nếu việc mua bán, sáp nhập các thông tin thường không được công bố chính thức, gần như mọi thông tin không chính thức được biết từ báo chí, việc này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các bên tham gia, các cổ đông mà còn mất niềm tin cho các nhà đầu tư chân chính, tạo ra môi trường không lành mạnh trong hoạt động kinh doanh. Nên chăng cần giao một cơ quan chính thứ công bố các thông tin có liên quan đến hoạt động mua bán, sáp nhập nhất là những hoạt động có liên quan đến yếu tố nước ngoài.

2.2 Bộ máy quản lý điều hành của công ty trong hoạt động mua bán, sáp nhập

Một trong những mục đích quan trọng nhất của M& A là giành quyền kiểm soát bộ máy quản lý điều hành hành của công ty. Vì vậy, bộ máy quản lý điều hành của công ty thông thường sẽ thay đổi sau hoạt động mua bán sáp nhập công ty. Bộ máy quản lý và điều hành của công ty phụ thuộc rất nhiều vào mục đích thù địch hay hợp tác cùng phát triển. Đối với hoạt động mua cổ phần mà không chiếm được cổ phần chi phối thì người mua cổ phần sẽ cử đại diện tham gia vào bộ máy quản lý điều hành. Trường hợp này thường gặp tại ngân hàng thương mại có nhà đầu tư nước ngoài tham gia như: ngân hàng HSBC mua 20% cổ phần của ngân hàng  Techcombank[16].

Tuy nhiên trong hầu hết các vụ thâu tóm doanh nghiệp thì bên tham gia thâu tóm  thay đổi ngay lặp tức hoặc từng bước toàn bộ  thành viên Hội đồng quản trị và ban điều hành như trường hợp xảy ra tại Sacombank hay Trustbank. Dĩ nhiên, theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm Việt Nam 2005 thì khi các cổ đông chiếm giữ số cổ phần tối thiểu là 10% thì có quyền triệu tập cuộc họp đại hội đồng cổ đông và tiến hành bầu lại ban quản lý và điều hành[17]. Vấn đề đặt ra là luật pháp cũng chưa có những quy định rõ ràng về bầu bổ sung hay bãi nhiệm thành viên hội đồng quản trị, dựa vào đó các bên có thể vận dụng để thay đổi theo yêu cầu.

Đối với việc sáp nhập công ty, bộ máy quản lý công ty sẽ thay đổi theo hướng rút gọn hơn. Tuy nhiên cũng có vấn đề đặt ra là bộ máy quản lý của công ty bị sáp nhập thường mất đi và gần như quyền quản lý công ty thuộc về công ty nhận sáp nhập. Điều này đã xãy ra đối với ngân hàng Thương mại cổ phần Sài gòn- Hà Nội và ngân hàng phát triển nhà Hà Nội. Sau khi HUB sáp nhập vào SHB, Tổng Giám đốc HUB chuyển qua làm nhân viên thu hồi nợ. Vấn đề này phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tự nguyện hay bắt buộc khi thực hiện thương vụ sáp nhập và những tiêu chí ban đầu khi tiến hành việc sáp nhập.

2.3 Quyền của cổ đông, chủ sở hữu công ty và sự bình đẳng của cổ đông đối với các hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp

Chắc chắn rằng sau hoạt động mua bán, sáp nhập tính chất và cơ cấu sở hữu sẽ thay đổi vì vậy quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu sẽ thay đổi. Việc thay đổi này phụ thuộc rất nhiều vào hình thức mua bán, sáp nhập.

Trong rất nhiều vụ mua bán, sáp nhập thì quyền lợi cổ đông không được đảm bảo đặc biệt là cổ đông thiểu số. Bởi thực chất hầu hết các doanh nghiệp tại Việt nam người chủ sở hữu cũng đồng thời là người trực tiếp quản lý, điều hành công ty. Những công ty Việt Nam thường có tính chất gia đình, ngay cả ở lĩnh vực ngân hàng, thì chỉ có một nhóm cổ đông gần như quyết định toàn bộ hoạt động của công ty, vai trò của cổ đông thiểu số tại công ty khá mờ nhạt. Vì vậy, khi nhắc đến các ngân hàng thương mại tại Việt Nam thì người ta thường liên tưởng đến một ông chủ hoặc một nhóm người có quyền chi phối hoàn toàn hoạt động của ngân hàng như nhắc đến ngân hàng SHB thì người ta thường nghĩ đến ngân hàng này của “Bầu Hiển”, ngân hàng Sacombank thì của Ông Thành, Ngân hàng Bắc Á thì của Bà Hường, hay ngân hàng Á châu là của “Bầu Kiên”…mà trong lĩnh vực ngân hàng, Nhà nước đã có quy định mỗi cổ đông là cá nhân không được sở hữu vượt quá 10% cổ phần, tổ chức không vượt quá 20% cổ phần đối với cá nhân, tổ chức trong nước[18]. Vì vậy, không thể có một cá nhân hay một tổ chức nào là chủ sở hữu thật sự của ngân hàng. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, sau khi hoạt động mua cổ phần, các chủ sở hữu chiếm cổ phần lớn theo nghĩa thực tế sẽ tìm cách hạn chế quyền của cổ đông thiểu số thông qua việc trao quyền hành cho thành viên hội đồng quản trị của công ty.

Đối với hình thức chuyển nhượng cổ phần thì tỷ lệ sở hữu trong các hoạt động mua bán, sáp nhập sẽ ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của cổ đông. Cũng có trường hợp cổ đông mới buộc ghi vào điều lệ công ty những điều khoản dẫn đến quyền của chủ sở hữu một số cổ đông  như vụ vinaconin[19],

2.4 Đảm bảo khuôn khổ quản trị, quy chế hoạt động của công ty có hiệu quả

Điều lệ, quy chế quản trị công ty sẽ thay đổi. Khi những cổ đông là cá nhân, tổ chức nước ngoài mua cổ phần thường thì họ muốn đem những hình thức quản trị hiện đại nhất vào khuôn khổ quản trị của công ty. Cũng phải thừa nhận rằng, hầu hết những vụ mua bán về cổ phiếu khi có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài thì khuôn khổ quản trị của công ty sẽ chuyên nghiệp hơn ví dụ trường hợp ngân hàng HSBC mua 20% cổ phần của ngân hàng Techcombank, quy chế quản trị cũng như mô hình hoạt động của công Techcombank được chia sẽ từ HSBC. Vì vậy, ngân hàng Techcombank luôn dẫn đầu trong việc xây dựng khuôn khổ về quản trị. Tuy nhiên, không phải mọi hình thức áp dụng quy chế quản trị mới và hiện đại vào công ty thì hoạt động sẽ ngày một hiệu quả hơn, điều này phụ thuộc rất nhiều vào văn hóa của nước sở tại. Đối với hình thức sáp nhập doanh nghiệp thì gần như quy chế quản trị sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào công ty nhận sáp nhập vì vậy quy chế quản trị do công ty sáp nhập ấn định, công ty bị sáp nhập phải hoạt động dựa trên quy chế của công ty nhận sáp nhập[20].

2.4 Vai trò của các bên  liên quan trong quản trị công ty sau mua bán, sáp nhập

Quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan phải được đảm bảo sau hoạt động mua bán, sáp nhập. Trong vấn đề này các bên cần quan tâm đến quyền lợi của người lao động, của chủ nợ, của cơ quan bảo hiểm xã hội. Trong rất nhiều vụ mua bán, sáp nhập hiện nay, sau khi hoạt động này hoàn thành thì hàng loạt người lao động buộc phải bị nghỉ việc, hoặc không đảm bảo quyền lợi ban đầu trước khi xảy ra hoạt động này. Đây là một yếu tố rất quan trọng sau hoạt động mua bán, sáp nhập công ty. Trường hợp này, người lao động sẽ chịu ảnh hưởng ít nhiều bởi cơ chế và hình thức mua bán, sáp nhập. Đối với hình thức sáp nhập thường thì người lao động của công ty bị sáp nhập sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích, thông thường sau một thời gian sáp nhập thì hàng loạt người lao động trong công ty bị sáp nhập sẽ phải nghỉ việc bởi nhiều lý do khác nhau. Đồng thời khi ban quản lý, điều hành nắm quyền chi phối thì họ sẽ tìm nhiều cách để duy trì và lựa chọn người lao động thuộc quyền quản lý của mình[21].

Luật pháp một số nước có nhiều cách thức khác nhau để bảo vệ quyền lợi của người lao động và việc tham gia quản lý, điều hành của người lao động. Tại Trung Quốc, một nữa thành viên hội đồng quản trị phải đại diện cho người lao động của công ty[22].

Đối với mối quan hệ giữa các chủ nợ khác, pháp luật quy định công ty nhận sáp nhập phải kế thừa quyền lợi và nghĩa vụ của công ty bị sáp nhập[23]. Tuy nhiên, vì rất nhiều lý do mà các chủ nợ bị thoái thác nghĩa vụ sau các thương vụ sáp nhập. Đối với quan hệ với các cơ quan nhà nước, các cơ quan này đôi khi lại cho rằng doanh nghiệp sau khi bị sáp nhập sẽ bị giải thể, vì vậy việc tiến hành thu thuế hoặc nghĩa vụ tài chính không được đảm bảo. Không loại trừ một số trường hợp hợp nhất, sáp nhập nhằm mục đích trốn thuế, trường hợp này xảy ra khi các công ty hợp nhất và sáp nhập có cùng chủ sở hữu. Giả sử doanh nghiệp A đang kinh doanh có lợi nhuận, Doanh nghiệp B đang thua lỗ, vì vậy họ sẽ thực hiện hoạt động hợp nhất, sáp nhập để nhằm làm cho công ty kinh doanh có lợi nhuận không phải nộp thuế khi thống nhất về báo cáo tài chính. Tuy nhiên điều này cũng có mặt trái của nó, vì công ty nhận sáp nhập, hoặc công ty hợp nhất mới ra đời sẽ ảnh hưởng nhất định về thương hiệu.

3. Đề xuất

3.1 Các bên cần tìm hiểu những thông tin cần thiết trước khi tham gia các thương vụ mua bán, sáp nhập công ty

Việc tìm hiểu thông tin là một một yêu cầu cần thiết trước khi thực hiện các thương vụ mua bán, sáp nhập. Việc tìm hiểu những thông tin về quản trị, tài chính của công ty là một yêu cầu bắt buộc đối với các bên.

Việc nhờ các đơn vị, chuyên gia có chuyên môn nhất định là một yêu cầu không thể thiếu trong việc thực hiện hợp đồng mua bán, sáp nhập. Việc tham gia của các chuyên gia, đơn vị chuyên môn này không chỉ giúp hạn chế rủi ro của các bên khi tham gia vào các hợp đồng mua bán, sáp nhập doanh nghiệp mà còn giúp các bên có những cách nhìn khách quan trước khi quyết định tham gia vào thương vụ mua bán sáp nhập.

Thẩm định pháp lý (legal due diligence) và thẩm định tài chính (financial due diligence) của doanh nghiệp bị sáp nhập, mua lại là các công việc quan trọng. Việc nắm rõ những thông tin cần thiết sẽ góp phần hiệu quả trong thương vụ M&A và quản trị công ty sau này[24]. Thẩm định pháp lý của doanh nghiệp giúp cho bên mua hiểu rõ tư cách pháp lý, các quyền và nghĩa vụ pháp lý, chế độ pháp lý đối với các loại tài sản, hợp đồng đối với người lao động, đất đai, xây dựng, đầu tư… trên cơ sở đó xác định tình trạng và các rủi ro pháp lý có thể có, từ đó đưa ra quyết định mua doanh nghiệp. Thẩm định pháp lý thường do các luật sư thực hiện thay mặt cho bên mua. Vì vậy, luật sư tư vấn M&A đóng vai trò rất quan trọng và kết luận về hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp bị mua, bị sáp nhập là cơ sở để các bên đưa ra quyết định mua bán, sáp nhập hay từ chối mua bán, sáp nhập. Sau thẩm định pháp lý, doanh nghiệp bị mua, bị sáp nhập cũng có thể tiến hành các thủ tục nhằm tái cấu trúc doanh nghiệp nhằm đáp ứng các yêu cầu của bên mua. Thẩm định tài chính thường do các công ty kiểm toán hay kiểm toán viên độc lập thực hiện. Về nguyên lý thì các bên trong giao dịch M&A thường có mục đích kinh tế trái chiều nhau và điều này có thể ảnh hưởng đến việc nâng và hạ giá doanh nghiệp. Bên mua muốn mua với giá rẻ, bên bán muốn bán với giá đắt và có thể che giấu những vấn đề hay rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Bởi vậy trong một thương vụ M&A, vai trò kiểm toán viên cũng rất quan trọng để thẩm định và đưa ra kết luận về giá trị thực tế doanh nghiệp (cả hữu hình và vô hình) và giúp cho hai bên tiến lại gần nhau để đi đến thống nhất (ngoại trừ một số thương vụ M&A theo quy định của pháp luật chứng khoán).

3.2. Bộ máy quản lý điều hành của công ty cần được thỏa thuận cụ thể và thực hiện đúng quy định của pháp luật sau hợp đồng mua bán, sáp nhập

Hợp đồng mua bán sáp nhập được xem là kim chỉ nam khi hình thành các vụ mua bán sáp nhập, vì vậy các bên cần phải thỏa thuận càng chi tiết bao nhiêu về hợp đồng này thì càng hạn chế xảy ra tranh chấp bấy nhiêu. Trong hợp đồng mua bán, sáp nhập thì quản trị công ty là một yếu tố cực kỳ quan trọng. Vì vậy các bên cần thỏa thuận rõ ràng về vai trò của các bên tham gia vào cơ quan quản lý, số lượng thành viên. Việc các bên thực hiện đúng những cam kết trong hợp đồng mua bán, sáp nhập cũng là một vấn đề rất quan trọng. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp các bên điều thực hiện đúng hợp đồng đã ký kết. Chính vì tính không minh bạch trước khi thực hiện hoạt động mua bán, sáp nhập cũng dẫn đến việc các bên không thực hiện đúng những nội dung đã cam kết ban đầu. Cũng có những trường hợp ban đầu các bên đã cam kết nhưng vì rất nhiều lý do mà các bên sẽ không thực hiện đúng những cam kết về quản trị ban đầu.

3.3 Nhà nước cần ban hành những văn bản pháp luật đầy đủ hơn để thực hiện hoạt động mua bán, sáp nhập trong quản trị doanh nghiệp

Nhà nước cần ban hành những văn bản pháp luật giám sát hoạt động mua bán, sáp nhập hoặc ban hành thêm luật cho hoạt động mua bán, sáp nhập qua đó quy định rõ những điều kiện cũng như những yêu cầu cần thiết trong quản trị công ty để các bên có cơ sở thực hiện các vụ việc mua bán, sáp nhập đặc biệt là quy định những hành vi bị cấm trong các vụ việc mua bán, sáp nhập cũng như quy định về mức độ xử lý những hành vi không minh bạch trong hoạt động mua bán, sáp nhập, trách nhiệm và nghĩa vụ phải rõ ràng, trách nhiệm của người quản lý và điều hành công ty điều hành khi thực hiện không đúng với quy định của pháp luật.

3.4 Cơ quan nhà nước cần có biện pháp giám sát, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động mua bán, sáp nhập

Trong hầu hết các vụ mua bán và sáp nhập hiện nay thì vai trò của cơ quan nhà nước trong việc giám sát rất hạn chế. Có nhiều quy định của pháp luật liên quan đến việc công bố thông tin trong các thương vụ mua bán và sáp nhập. Tuy nhiên việc kiểm tra, ngăn chặn những hành vi mua bán, sáp nhập không minh bạch gây hiệu quả xấu ảnh hưởng đến quản trị công ty thì gần như không được thực hiện. Đối với những công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thì việc công bố thông tin khi thực hiện những hoạt động này là đều bắt buộc. Tuy nhiên, rất nhiều những vụ mua bán cổ phần đều không được công bố, khi vụ việc đã rồi thì cơ quan nhà nước mới áp dụng những hình thức xử lý, mức độ xử lý hành vi này quá nhẹ so với số tiền khổng lồ mà họ bỏ ra để thâu tóm doanh nghiệp[25]. Đặc biệt là việc thừa nhận hành vi này là một hoạt động hợp pháp[26]. Điều này hoàn toàn khác với pháp luật của các nước như Hoa Kỳ thì hoạt động thâu tóm này xem như bị hủy và người tham gia hoạt động này sẽ bị cấm hoạt động đầu tư cổ phiếu[27]. Có thể minh chứng vụ việc xảy ra tại Sacombank là một bài học đắt giá cho những cổ đông hiện đang sở hữu những công ty niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán. Điều này lý giải rằng, việc thâu tóm một doanh nghiệp tại Việt Nam khi niêm yết trên sàn giao dịch rất dễ dàng, đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng khi nhà nước giới hạn số lượng cổ phần mà một tổ chức, cá nhân được quyền nắm giữ.

 


[1]NCS, Giảng viên Khoa Luật Kinh tế, Trường ĐH Kinh tế TP. HCM, Giám đốc Trung tâm tư vấn bồi dưỡng pháp luật kinh doanh.

[2]Xem Điều 153, Luật Doanh nghiệp 2005.

[3]Nguyễn Đình Cung & Lưu Minh Đức, Thâu tóm và hợp nhất từ khía cạnh quản trị công ty: Lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam, Tạp chí quản lý kinh tế

[4]Xem thêm Quyết định 12/2007/BTC ngày 13/3/2007 của Bộ Tài Chính

[5]Nguồn: Vneconomy.vn, Chủ nhật, 10/6/2012.

[6]Nguồn: Eximbank, Sacombank lên kế hoạch sáp nhập- Kinh tế sài gòn ngày 29/01/2013.

[7]Nguồn Cafef.vn

[8]Nguồn: Chính thức công bố ba ngân hàng hợp nhất – Vneconomy.vn, Thư ba, 6/12/2011.

[9]Văn bản số 9666/NHNN-TTGSNH của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc hợp nhất ba ngân hàng thương mại cổ phần, ngày 16/12/2011, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

[10]Nguồn: Baodautu.vn, Thứ năm, ngày 28/3/2013.

[11]Vũ Thị Kim Oanh, Tái cấu trúc ngân hàng – Kinh nghiệm từ Hàn Quốc, Thời báo Ngân hàng, ngày 6/7/2012.

[12]Cục Quản lý cạnh trang, ngày 29/3/2013 về Tổng quan về M&A trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam và xu hướng phát triển trong thời gian tới.

[13]Theo quy định của NYSE hoặc SGD Chứng khoán Úc (Australian Stock Exchange – ASX), công ty niêm yết phải có đa số thành viên HĐQT là độc lập. Ở Anh, Luật hỗn hợp về quản trị công ty (Combined Code on Corporate Governance – CCCG) quy định, các công ty khác phải có ít nhất 2 hoặc đa số thành viên HĐQT là độc lập tùy số nào lớn hơn. Tại Hongkong, Malaysia theo các quy định về niêm yết (LR) HĐQT công ty niêm yết phải có ít nhất 1/3 hoặc 3 (Hongkong) hay 2 (Malaysia) là độc lập.

[14]Xem Điều 11 Thông tư  số: 121/2012/TT-BTC ngày 20/7/2012 về quản trị công ty áp dụng cho công ty đại chúng.

[15] Phạm Duy Nghĩa, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, ngày 03/11/2010

[16]HSBC cử ông Stephen Chales Banner đại diện phần vốn góp tại Techcombank theo Techcombank, Báo cáo tình hình quản trị (6 tháng năm 2012), ngày 16/7/2012

[17]Xem Điều 79, Điều 97 Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005.

[18]Xem Điều 34 Nghị định số 59/2009/NĐ-CP, ngày 16 tháng 07 năm 2009

[19]Nguồn Cafe.vn

[20]Nguyễn Đình Cung & Lưu Minh Đức, Thâu tóm và hợp nhất từ khía cạnh quản trị công ty: Lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam, Tạp chí quản lý kinh tế.

[21] Nguyễn Đình Cung & Lưu Minh Đức, Thâu tóm và hợp nhất từ khía cạnh quản trị công ty: Lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam, Tạp chí quản lý kinh tế.

[22]Xem Điều 45, Điều 68 Companies Law of the People’s Republic of China 2005.

[23]Xem Điều 152, Điều 153 Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005.

[24]Alexandra Reed Lajoux & Charles M. Elson (2011), The Art of M&A: Due Diligence, tr 6 -7.

[25]Nguồn: Vneconomy.vn, Chủ nhật, 10/6/2012.

[26]Nguồn: Vneconomy.vn, Chủ nhật, 10/6/2012.

[27]Thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 05/04/2012 hướng dẫn việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.